Halaman

    Social Items

Google Browser Sync & Foxmarks Bookmark Synchronizer

Nếu sử dụng FireFox trên nhiều hơn một máy tính, có thể bạn sẽ rất thất vọng khi muốn biết tất cả các bookmark nằm ở đâu. Google Browser Sync là một giải pháp cứu nguy cho bạn. Sử dụng tài khoản Google cũ, Google Browser Sync sẽ đồng bộ không chỉ các bookmark mà còn các phiên, cookie, mật khẩu, history trong nhiều máy khác nhau. (Mở rộng này có thể cấu hình người dùng theo diện rộng; ví dụ, dù bạn muốn đồng bộ hay không đồng bộ các cookie, bạn cũng không thể đưa ra quyết định dựa trên các cookie riêng lẻ). Ngoài tên và mật khẩu cho tài khoản Google, bạn sẽ được cung cấp thêm mã số bảo mật PIN trong các giao dịch.
Phiên bản sử dụng: 1.3.20061031.0.
Tải về tại: www.google.com/tools/firefox/browsersync

Có một hạn chế là quá trình khởi tạo đồng bộ ở Google Browser Sync mất khá nhiều thời gian. Và với một số cư dân mạng thì tiện ích này có nhiều chức năng thừa. Nếu bạn chỉ muốn đồng bộ bookmark mà thôi, bạn nên thử Foxmarks Bookmark Synchronizer. Bạn sẽ phải tạo một tài khoản trên Foxmarks (giống như Google, nhưng hầu hết mọi người đều đã có sẵn tài khoản Google), nhưng thời gian khởi tạo đồng bộ nhanh hơn nhiều.
Ngoài ra, bạn có thể truy cập vào các bookmark của mình thông qua website my.foxmarks.com. Điều này có thể sẽ giúp bạn rất nhiều trong những chuyến công tác, với một chiếc máy mượn được ở bất kỳ đâu.

Phiên bản sử dụng: 0.84.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/2410.

Session Manager

Session Manager là tiện ích hữu dụng giúp bạn quản lý các tab FireFox hiệu quả. Nếu bạn là người lướt Web chuyên nghiệp, có thói quen vào một số website giống nhau mỗi buổi sáng, tất cả điều bạn cần phải làm là mở từng website trong một tab hoặc cửa sổ riêng, sau đó dùng Session Manager để ghi lại phiên hoạt động của buổi hôm đó với tên do bạn đặt. Tiếp theo, mỗi buổi sáng bạn chỉ cần khởi động FireFox, vào Tools > Session Manager, chọn phiên muốn xem. Tất cả cửa sổ và tab sẽ được mở theo tên bạn ghi trước đó.

Bạn có thể chọn một trong số các phiên đã ghi làm “phiên khởi động” mặc định cho FireFox (thay vì sử dụng trang Web). Session Manager còn hỗ trợ theo dõi các phiên bạn đã đi qua. Nếu FireFox hoặc máy tính bị hỏng, bạn có thể phục hồi việc chọn các tab đã mở.
Lưu ý cuối cùng: Nếu bạn đột nhiên đóng một tab, bạn có thể mở lại nó dễ dàng từ menu Session Manager.

Session Manager tương thích rất tốt với FireFox 2.0. Nếu bạn vẫn dùng FireFox 1.5, một số chức năng của Session Manager sẽ không hoạt động. Hầu hết các phiên bản hiện tại của Session Manager đều đòi hỏi phải dùng từ FireFox 2.0 trở lên. Tuy nhiên bạn vẫn có thể tìm ra các phiên bản tương thích FireFox 1.5 trên website.

Phiên bản sử dụng: 0.5.3.1.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/2324

All-in-One Gestures

Đây là một trong số các mở rộng có khá nhiều chức năng, đôi khi không cần thiết. Chức năng cốt lõi của nó là gán các lệnh cho “Gestures”, thao tác với chuột. Chẳng hạn, ấn giữ nút chuột phải, di chuột sang bên trái một chút là thực hiện lệnh “Back” (trở lại trang trước). Kết hợp chuột phải và di chuột liên tục và mở một tab mới...
  


 Có khoảng hơn 90 lệnh kết hợp chuột và thao tác diễn đạt, ràng buộc cho từng cấu hình người dùng. Bạn có thể nhớ được 90 thao tác đó? Tất nhiên là không! Nhưng tìm ra các lệnh sử dụng thường xuyên và gán cho chúng thao tác đơn giản, bạn sẽ tiết kiệm được hàng kilomet quãng đường cho chuột của mình.

Mở rộng này cũng cung cấp chức năng tự động cuộn như trong Internet Explorer. Bạn chỉ cần kích chuột vào nút giữa, sau đó di chuyển chuột lên hoặc xuống, trang kết tiếp sẽ được tự động đưa ra. Bạn di chuột càng xa, trang được cuộn càng nhanh.

All-in-One cung cấp lựa chọn phong phú các nâng cao định hướng nhỏ như thế này. Nó thực sự là một trong các mở rộng “bạn phải thử mới hiểu rõ giá trị của nó”.

Phiên bản sử dụng: 0.18.0.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/12

IE Tab

Trong thực tế cuộc sống, vẫn có nhiều website đòi hỏi phải dùng hoặc hoạt động tốt hơn trên Internet Explorer. IE Tab sẽ giúp bạn giải quyết điều đó. Sau khi download và cài đặt xong, mở rộng này sẽ đặt một biểu tượng nhỏ trong thanh trạng thái của bạn. Kích vào biểu tượng, cơ chế rendering trên FireFox sẽ chuyển sang rendering trên Internet Explorer. Chức năng này rất hữu ích với các website từ chối chạy video trên FireFox.

Bạn có thể thiết lập các bộ lọc để website luôn được hiển thị trong một tab IE. Thực tế, mở rộng này trên website update của Microsoft đã được cấu hình sẵn với một số bộ lọc và tuỳ chọn “Open Link in IE Tab” (liên kết mở trong tab IE) trong meunu ngữ cảnh chuột phải của FireFox.

Do mở rộng này sử dụng cơ chế của IE nên nó là sản phẩm chỉ dành cho Windows.

Phiên bản sử dụng: 1.3.1.20070126.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/1419

Download Statusbar

Chắc bạn đã từng quen thuộc với cửa sổ Downloads đôi khi khá khó chịu bởi sự xuất hiện của các pop-up, khi muốn tải một file nào đó trong FireFox. Download Statusbar là mở rộng có chức năng tương tự. Nhưng thay vì các pop-up, nó chỉ cung cấp cùng thông tin trong thanh trạng thái ở cuối cửa sổ trình duyệt. (Nếu thấy cần, bạn hoàn toàn có thể mở cửa sổ Downloads).

Khi chuột qua tên file, một pop-up cung cấp mẹo sử dụng với một số thông tin mở rộng về file bạn đang download sẽ hiện ra (như nguồn download, nơi ghi file, tốc độ download, phần trăm hoàn thành…). 
Một thành phần mở rộng (vẫn đang ở phiên bản thử nghiệm beta) sẽ tự động chạy bộ quét virus cho các file download về.

Khá đơn giản, nhưng nó giúp “xoá bỏ” đòi hỏi về kinh nghiệm đường dẫn. Mở rộng này được phát triển bởi cùng một tác giả của Download Sort bên dưới.

Phiên bản sử dụng: 0.9.4.5.1.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/26.

Download Sort

Nếu bạn cần tìm rất nhiều file download dạng “Save Link As” hay “Save Image As”, Download Sort là bộ tiết kiệm thời gian cho bạn. Nó cho phép bạn tìm file download theo tên mở rộng, từ khoá hoặc một cụm từ trong đường dẫn URL.

Download Sort hoạt động như thế nào? Sau khi cài đặt xong, bạn thiết lập bộ lọc cho nó. Ví dụ, có thể bạn muốn một file với đuôi .jpg nằm trong thư mục Pictures, hay một file có đuôi .zip nằm trong thư mục Archinves.
Bây giờ, khi bạn kích phải chuột lên một ảnh .jpg và chọn Save Image As, ảnh sẽ được download ngay lập tức vào thư mục Pictures mà không cần bất kỳ nhắc nhở nào. Tương tự, kích phải chuột lên một file .zip, chọn Save Link As, file sẽ được đưa thẳng vào thư mục Archives. Ngoài ra bạn còn có mở rộng tạo các thư mục con theo ngày tháng, miền và một số thông số chủ yếu khác.

Tuy nhiên có một hạn chế lớn ở đây là Download Sort không ngăn chặn được các download bấm trái chuột thông thường. Sẽ hết sức tuyệt vời nếu các nhà phát triển bổ sung thêm chức năng này cho Download Sort.

Phiên bản sử dụng: 2.5.7.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/25.

Nuke Anything Enhanced

Nếu bạn cần phải in nhiều trang Web, mở rộng này sẽ giúp bạn tiết kiệm được nhiều mực in. Sau khi được cài đặt xong, nó sẽ thêm tuỳ chọn “Remove this object” vào menu ngữ cảnh chuột phải. Đặt chuột lên phần thông tin không cần in (các thanh thực đơn, logo đồ hoạ lớn…) và dùng “Remove this object” để xoá chúng tạm thời. Làm sạch trang, sau đó in cái bạn cần.

 Có thể sẽ hơi rối một chút nếu bạn không biết chính xác mình đang in cái gì. Với ảnh thì khá dễ dàng, nhưng menu và các phần khác trên trang cần thử nghiệm và hay mắc lỗi. Bạn nên sử dụng tuỳ chọn “Undo Last Remove” (phục hồi lại đối tượng loại bỏ mới nhất), nếu vô tình xoá một file nào đó bạn đang cần. Hoặc bạn có thể load lại trang để phục hồi nó trở về trạng thái ban đầu.

Có một điểm giới hạn là bạn không thể làm gì được với nội dung Flash. Mỗi khi kích phải chuột lên đối tượng Flash, bạn sẽ có được menu ngữ cảnh của nó chứ không phải cửa FireFox. Đôi khi bạn sẽ gặp phải trang chứa nội dung Flash, nhưng có thể sẽ cần thử nghiệm và sửa chữa lỗi nếu muốn in nó.

Phiên bản sử dụng: 0.54
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/951

Thu thập thông tin

Forecastfox

Forecastfox đặt một bản update thông tin dự báo thời tiết trên thạnh trạng thái của FireFox. Chỉ cần kích vào một trong các biểu tượng của nó, bạn có thể xem đầy đủ thông tin về thời tiết trên AccuWeather.com.

Một lượng tuỳ chọn lớn cung cấp cho bạn mức kiểm soát thông tin ít ra sao, nhiều như thế nào, với một nút ảnh radar, các cảnh báo thời tiết khắt khe và bảng tin dự báo mở rộng trong 8 ngày. Bạn có thể tạo ra nhiều profile, mỗi cái tương ứng cho một số tuỳ chọn riêng. Hãy sử dụng chúng để biết về thời tiết trong các mã zip khác nhau nếu bạn là một khách du lịch. Hoặc tạo ra các profile với nhiều dữ liệu về điều kiện khắc nghiệt của mùa đông hay những ngày nắng cháy của mùa hè.
Chỉ có một hạn chế ở đây là , giống như tất cả các mở rộng dựa trên dữ liệu từ các website bên ngoài, nếu AccuWeather.com không đáp lại, bạn sẽ không có được bất kỳ bản update thời tiết nào.

Phiên bản sử dụng: 0.9.3.1.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/398.

Answers

Đây là một mở rộng rất đơn giản, chỉ cần ấn giữ phím Alt (tức nút Option trên Mac) và kích vào một từ, một cửa sổ trình đơn với thông tin về từ đó trên Aswers.com sẽ xuất hiện. (Kết quả có thể hiển thị trong toàn bộ cửa sổ nếu bạn muốn). Nút More trong trình đơn sẽ mở ra tab mới với toàn bộ trang kết quả từ Answers.com.

Nếu muốn tìm cụm từ, bạn phải bôi đên, kích phải chuột lên và chọn “Look up on Answers.com”.
Phiên bản sử dụng: 2.2.22.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/735.

Các mở rộng cần thiết cho nhà phát triển Web

FireFTP

Vì sao lai loại bỏ giữa các ứng dụng khi bạn có thể dùng FireFTP và có được một client FTP đầy đủ thành phần trong một tab, và trang Web bạn đang làm việc trên một tab khác?

FireFTP sẽ thêm một tuỳ chọn vào thực đơn Tools của FireFox. Khi bấm lên nó, một tab mới sẽ mở ra (bạn có thể thiết lập nó như một cửa sổ mới nếu thích) với client FTP hai khung truyền thống: các file cục bộ bên trái, các file từ xa bên phải. Kích phải chuột lên các file, bạn có thể ngắt đặc quyền của chúng và tất cả chức năng khác bạn muốn thực hiện qua FTP.
Có một thành phần tuyệt vời là “View on the Web” (xem trên Web) sẽ mở các file trên server từ xa trong tab mới. Bạn có thể thiết lập cho từng host “cắt” các phần cấu trúc thư mục (như /public_html chẳng hạn) để có được các URL hợp lệ với đường dẫn “vật lý” đầy đủ tới file.

Nhưng có một điểm thất vọng là client này chỉ dành cho FTP. Khi hỏi về hỗ trợ SFTP, tác giả trả lời rằng, “có thể trong phiên bản Version 2.0”. Chúng ta cứ chờ xem.

Cảnh báo: Nếu kết hợp cả FireFTP và FireFox 2.0.0.1 có thể sẽ tạo ra lỗi hồi quy trong FireFox, vì mức chiếm dụng CPU cao. Nếu bạn vẫn đang chạy phiên bản 2.0.0.1, bạn nên nâng cấp nó lên 2.0.0.2 trước khi cài FireFTP.

Phiên bản sử dụng: 0.94.6.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/684.

Firebug

Firebug là một công cụ chủ chốt cho các nhà phát triển làm việc trên các trang Web. Nó cho phép bạn kiểm tra và ngắt HTML, CSS, JavaScript có trong một trang. Firebug sẽ mở ra dưới dạng một khung ở cuối trang bạn đang kiểm tra, hoặc trong một cửa sổ riêng.

Khám phá tất cả những gì Firebug có thể làm được sẽ phải mất cả một trang dài để viết. Chính vì thế, bây giờ chúng ta sẽ xem xét vấn đề cơ bản về mã nguồn HTML. Sau khi Firebug được kích hoạt, nếu bạn di chuột tới một thẻ HTML, một vùng được đánh dấu sẽ xuất hiện trên trang trả lại, chỉ cho bạn biết thẻ đó được hiển thị ở đâu.
 Ngoài ra, bạn có thể đặt Firebug trong mô hình Inspect. Sau đó, di chuột qua trang trả lại, dòng phù hợp với mã nguồn sẽ được đánh dấu. Kích đúp vào mã, bạn có thể chỉnh sửa và xem các thay đổi tạo ra. CSS cũng làm việc theo cách tương tự.

Với các nhà phát triển JavaScript, Firebug sẽ giúp tìm lỗi và nhảy nhanh tới mã nguồn của các lỗi đó. Bạn có thể thay đổi mã, dò từng bước theo từng dòng trên script, đặt các điểm ngắt, v.v…. Về cơ bản mà nói, đây là hệ thống gỡ rối JavaScript đầy đủ, nằm trong một mở rộng trình duyệt.

Firebug là mở rộng tuyệt vời và là một chủ đề lớn. Nếu bạn đang phát triển các trang Web, chắc chắn bạn sẽ thích có nó trong bộ công cụ của mình. Có nhiều tài liệu và nhiều trao đổi bạn có thể tham khảo về nó trên GetFirebug Web site.

Phiên bản sử dụng: 1.01.
Tải về tại: www.getfirebug.com.

Web Developer

Web Developer là một Swiss Army Knife ảo khác dành cho mã nguồn. Có một số điểm trùng với Firebug, nhưng Firebug quan tâm nhiều hơn đến nội dung của một trang Web, còn Web Developer cung cấp công cụ tương tác với trang Web.
  Ví dụ, bạn có thể chỉnh sửa các cookie, kiểm tra, xoá và thậm chí thêm chúng. Bạn có thể ngắt các thiết lập form, xoá dữ liệu riêng tư và ngừng sử dụng Cache - tất cả các kiểu thao tác thời gian thực.

Các thành phần của Web Developer có thể truy cập như một toolbar, hoặc theo các thực đơn hình thác bên dưới menu Tools của FireFox. Sử dụng dưới dạng toolbar thì thuận tiện hơn, vì bạn có thể xem danh sách tất cả 12 thành phần đáng quan tâm nhất trong một thoáng (và, tất nhiên có thể dễ dàng tắt nó khi bạn không ở giữa website đang phát triển).

Mở rộng này thậm chí cũng rất hữu ích với người dùng Web thường xuyên, với những chức năng như tắt các ảnh nền. Nếu bạn đã từng phải đọc những dòng chữ qua ảnh nền một chú cún của ai đó, chắc bạn sẽ hiểu rõ giá trị của mở rộng này.

Các nhà phát triển Web có thể sẽ muốn chạy cả Firebug và Web Developer. Chúng dường như chung sống rất hoà bình với nhau.

Phiên bản sử dụng: 1.1.3.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/60.

MeasureIt

Rất đơn giản và rất hữu ích. Sau khi cài đặt mở rộng này, bạn sẽ thấy một biểu tượng hình thước kẻ nhỏ trên thanh trạng thái. Khi kích vào nó, vùng client trên cửa sổ trình duyệt sẽ mờ đi một chút và bạn sẽ có con trỏ nhấp nháy.

Dùng nó kéo một hộp qua một phần trên màn hình. Bên cạnh hộp là độ cao và chiều rộng, được đo theo các điểm ảnh (pixel). Bạn sẽ không còn cần phải đoán xem chiều rộng của sidebar thực sự là bao nhiêu, hay liệu footer có thực sự hoàn trả 150 điểm ảnh như kiểu sheet đã nói. Sau khi bạn thực hiện, một khoá Escapte sẽ tắt MeasureIt và trả trang Web về cho bạn.
  Phiên bản sử dụng: 0.3.6.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/539.

ColorZilla

Một công cụ nhanh và đơn giản khác, dành cho các nhà thiết kế hơn là các nhà phát triển. ColorZilla đặt biểu tượng mắt đỏ ống mắt lên thanh trạng thái. Kích vào nó bạn sẽ có con trỏ nhấp nháy. Khi di nó qua một trang Web, các giá trị RGB của pixel bên dưới sẽ hiển thị trong thanh trạng thái, ở cả dạng 3 số phân tách và dạng hexa (hệ 16) (VD: R:255, G:255, B:255 | #FFFFFF).
  Ngoài ra còn có một đường bao bên ngoài nội dung bạn đang trỏ chuột tới, một chỉ báo

Hộp chứa nội dung và kiểu nó đang sử dụng (ví dụ: h2.posttitle hay div#content).

ColorZilla cũng cung cấp bộ chọn màu, bảng màu và khả năn truy cập dễ dàng tới DOM Inspector, một công cụ Mozilla để kiểm tra modul đối tượng văn bản (Document Object Module) của trang.

Phiên bản sử dụng: 1.0.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/271.

Hai mươi mở rộng bạn đã có trong tay. Tất nhiên còn nhiều mở rộng khác, với những chức năng cũng thú vị không kém. Nhưng, như đã nói ở trên, các mở rộng dành cho hệ điều hành Mac thì rất nhiều, chọn lọc được cái nào phù hợp quả không dễ. Hy vọng, bạn sẽ thực sự thấy hữu ích với 20 thành phần được giới thiệu ra ở đây và tự tìm cho mình một số tiện ích khác phù hợp trong thế giới ảo cái gì cũng có của Internet.


Những tiện ích mở rộng cần phải có trên FireFox [P2]

FireFox là gói phần mềm trình duyệt nguồn mở được ưa chuộng nhất hiện nay, ngang ngửa với Internet Explorer của Microsoft. Điều khiến trình duyệt này trở nên đặc biệt là khả năng tuỳ biến với các mở rộng và khung nền (theme) đa dạng, giúp người dùng hoàn toàn có thể xây dựng một trình duyệt riêng theo ý mình. Nhưng cũng do có quá nhiều thành phần mở rộng nên khiến chúng ta đau đầu, không biết phải cài đặt mở rộng nào và bỏ qua mở rộng nào cho hợp lý.

Vấn đề đó cũng chính là là nội dung chúng ta sẽ quan tâm tới trong bài này. Chúng ta sẽ khám phá 20 mở rộng cùng với các thành phần bổ sung (add-in) được dùng phổ biến nhất, theo lời khuyên của những người lướt Web giàu kinh nghiệm, các nhà phát triển và chuyên gia IT. Liệu có phải bạn đang tìm kiếm khả năng phân dòng lướt web hiệu quả hơn, khả năng nâng cao cho con mắt nhìn và cảm nhận, các công cụ thiết kế tốt hay sự trợ giúp phát triển Web nghiêm túc? Vâng, tất cả ở đây.

Các công cụ thuần thục cho Web

StumbleUpon

Đầu tiên là một cảnh báo: StumbleUpon khá nguy hiểm cho hiệu suất công việc! Nó là một trong các ứng dụng Web mạng xã hội vốn ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây. Nó cung cấp cách tìm website mới có thể bạn sẽ thấy thú vị và hữu ích.

Mở rộng này sẽ thêm một thanh công cụ StumbleUpon vào FireFox. Tất cả các tính năng chính của StumbleUpon đều có thể sử dụng qua toobar này, nhưng nhớ phải thiết lập một tài khoản trước. Khi đăng ký, bạn sẽ cần lựa chọn một số chủ đề khởi đầu với một số kiểu website yêu thích (như: lịch sử cổ đại, tâm lý con người, cách thức nâng cao bản thân…), nhưng hoàn toàn có thể xem xét đến vấn đề này ở sau.

Sau khi cài đặt xong, bạn kích vào nút Stumble! trên toolbar để sử dụng một website ngẫu nhiên có trong danh sách. Nếu không thích website này, kích vào nút Thumbs, nếu muốn thì kích vào nút Thumbs Up. Các website được đưa ra càng nhiều, Stumbles càng khớp chính xác sở thích của bạn. Nếu website đưa ra chưa có trong cơ sở dữ liệu StumbleUpon, bạn có thể nhập một số thông tin cơ bản của nó vào để không bị nhầm lẫn với website khác.

Không phải lúc nào cũng nên dùng StumbleUpon, nhưng nó khá vui nhộn và có thể đưa bạn trở lại tất cả các website thú vị của những ngày lướt Net trước đây.

Phiên bản sử dụng: 2.91
Bạn có thể download về từ website: addons.mozilla.org/firefox/138
Gmail Manager & Yahoo Mail Notifier

Hai mở rộng này thực hiện một số hoạt động cơ bản cho các dịch vụ Web mail tương ứng.

Yahoo Mail Notifier khá đơn giản. Nó chỉ có một biểu tượng phong bì thư nhỏ được đặt trên thanh trạng thái (status bar), hiển thị thông báo cho người dùng biết có bao nhiêu mail mới trong tài khoản yahoo mail của bạn. Một danh sách pop-up nhỏ sẽ được đưa ra nhằm thu hút sự chú ý của người dùng khi có thư mới. Kích vào biểu tượng, bạn có thể vào thẳng Yahoo mail.

Phiên bản sử dụng: 0.9.9.2
Tải về tại addons.mozilla.org/firefox/1264.

Gmail Manager thể thực hiện tất cả công việc như của Yahoo Mail Notifier, cùng với một số chức năng khác. Nếu đưa chuột lên trên Gmail Mangager, bạn sẽ biết được tổng số thư mới nhận được là bao nhiêu, có bao nhiêu thư rác, nhãn trên từng thư và không gian hòm thư đã sử dụng. Bên dưới là danh sách 10 thư mới nhất, với thông tin From, Subject và dòng đầu tiên trong thư. Bạn có thể tắt chức năng hiển thị các thông tin này. Trình quản lý cũng hỗ trợ đa tài khoản Gmail. Bạn có thể thiết lập liên kết mở tới cửa sổ soạn thảo thư mới trong Gmail.
Phiên bản sử dụng: 0.5.3.
Download tại địa chỉ: addons.mozilla.org/firefox/1320

Greasemonkey

Greasemonkey không dành cho những trái tim yếu bóng vía. Về cơ bản, nó cho phép bạn thêm JavaScript vào tất cả các trang Web, nhưng để viết ra được các kịch bản này đòi hỏi bạn phải có kiến thức tốt về script. Song, có không ít người dùng sẵn sàng chia sẻ các script mà họ đã tạo với bạn.

Trong lần cài đặt đầu tiên, Greasemonkey không thực hiện gì cả. Nó chỉ cho phép các hoạt động scripting. Bạn phải viết, cài đặt và cấu hình script trước khi thấy có bất kỳ thay đổi nào trên các trang Web.

Vậy các script này thực hiện những gì? Câu trả lời là nó có thể làm được gần như bất kỳ cái gì có thể làm trên JavaScript. Ví dụ, tôi dùng cả Gmail của Google và các dịch vụ Reader. Có một script khiến Reader xuất hiện trên cùng một trang như Gmail. Đó là thay đổi khá lớn. (Thật dễ dàng để ngắt một script, và còn dễ dàng hơn khi gỡ bỏ Greasemonkey trong trường hợp bạn cần phục hồi lại một thay đổi). 
Có nhiều script thực hiện công việc nhỏ như loại bỏ chức năng Edit trên Wikipedia. Hầu hết chúng ta sẽ chẳng bao giờ chỉnh sửa các trang này. Vì thế, tại sao không xoá chúng đi một chút? Một script khác, như bạn thấy ở hình bên, biến kết quả tìm kiếm trên Google thành hai cột, giúp người dùng khai thác hiệu quả hơn với không gian màn hình lớn. Con người không bao giờ ngừng sáng tạo ra khả năng mới!

Hãy xem trên website userscript.org để có được script thú vị và phù hợp. Nếu bạn muốn viết các script riêng, tham khảo trên diveintogreasemonkey.org, hoặc Greasemonkey Hacks của Mark Pilgrim do O’Reilly Media cung cấp.

Phiên bản sử dụng: 0.6.7.20070131.0.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/748

Các nâng cao trực quan

FireFox Showcase

FireFox Showcase là thành phần mở rộng tuyệt vời, bởi sự tiện lợi cũng như việc sử dụng một chức năng nâng cao của Internet Explorer 7 trong FireFox: hiển thị tất cả cửa sổ nhỏ của các chương trình và tab đang mở.

Sau khi cài đặt xong, một thực đơn Showcase con mới sẽ xuất hiện bên dưới menu View. Từ dó, bạn có thể chọn hiển thị tất cả khung nhỏ của các tab trong cửa sổ hiện tại hoặc tất cả các tab trên mọi cửa sổ. (Trong khi đó IE7 chỉ hiển thị khung nhỏ của các tab trong một cửa sổ cụ thể).

Ngoài ra, bạn còn có thể chọn hiển thị các khung ảnh nhỏ trong tab mới hoặc trong một cửa sổ nổi.
Bạn cũng có được một số tuỳ chọn mới bên dưới thực đơn con Sidebar: lựa chọn mở các tab từ cửa sổ hiện tại hoặc từ tất cả các cửa sổ, trong sidebar của FireFox. Không có vấn đề gì khó khăn nếu bạn muốn chọn kiểu hiển thị các khung ảnh nhỏ. Chỉ cần kích vào một trong các khung ảnh để nối kết window/tab.

Nếu thẩy rằng mở rộng này quá phức tạp, bạn có thể bỏ qua một cách an toàn một số tuỳ chọn và chỉ sử dụng theo cấu hình mặc định của nó.

Nếu bạn có thói quen đều đặn tự tìm cho mình lớp sóng trong các tab mở, kích quanh và tìm ra đúng trang mình cần. FireFox Showcase sẽ tiết kiệm cho bạn nhiều công sức và sự bực mình.

Phiên bản sử dụng: 0.9.2.1.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/1810

Cooliris Previews

Mở rộng thú vị này cho phép bạn xem trước một trang Web trước khi thực sự mở nó. Sau khi cài đặt xong Cooliris Previews, một biểu tượng màu xanh nhỏ sẽ xuất hiện bên cạnh bất kỳ liên kết nào bạn di chuột đến. Khi trỏ chuột đặt lên biểu tượng, nội dung của trang được thể hiện. Khi bạn di chuột ra ngoài biểu tượng màu xanh và cửa sổ pop-up, nội dung xem trước sẽ biến mất. Ở phía trên cửa sổ pop-up là một số biểu tượng bổ sung, cho phép bạn khoá cửa sổ mở, mở phần xem trước trong tab mới, gửi theo hình thức thư điện tử đến cho một người bạn (nhưng phải đăng ký tài khoản tại Cooliris Website), đóng cửa sổ hoặc dùng nút Back. Bạn có thể cho chuột lướt quanh cửa sổ xem trước này, sau đó là nút Back.
Thực ra mở rộng này mang tính gọn gàng hơn là hữu ích. Nhưng với những website như YouTube, preview được nâng cao. Nếu bạn xem trước một liên kết tới YouTube, chỉ có video được mở trong cửa sổ preview.

Ngoài Preview, Cooliris còn thêm chức năng tìm kiếm dựa theo ngữ cảnh trên menu chuột phải. Đánh dấu từ hoặc cụm từ trên một trang, kích phải chuột rồi Cooliris Search, sau đó sử dụng một trong các trang thefreedictionary.com, Google Images, Google Search hay Wikipedia để tìm kiếm. Nếu di chuột qua một trong bốn lựa chọn, kết quả sẽ hiển thị trong cửa sổ preview. Nếu bạn kích vào chúng sẽ mở ra trong tab mới.

Nếu cửa sổ preview xuất hiện quá nhiều, bạn có thể loại bỏ dễ dàng bằng cách kích vào một biểu tượng trong thanh trạng thái. Bạn có thể ngừng hoặc cho phép xem trước từng trang liên tiếp.

Phiên bản sử dụng: 2.1.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/2207

Colorful Tabs và ChromaTabs

Colorful Tabs khá cơ bản. Nó tô màu cho các tab với gam nhạt dễ chịu. Sau một ngày dài tìm kiếm, màu sắc dịu nhẹ sẽ giúp dôi mắt mệt mỏi của bạn được thư giãn
Phiên bản mới nhất đòi hỏi từ FireFox 2.0 trở đi. Với các bản FireFox cũ hơn, bạn có thể dùng Colorful Tabs v1.4. Xem liên kết sau để biết thêm chi tiết.

Phiên bản sử dụng: 1.9.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/1368

ChoromaTabs khá giống với Colorful Tabs. Chỉ có một điểm khác là ChromaTabs xác định màu sắc cho tab theo tên hostname trong đường dẫn URL. Nếu lướt qua trang web khác, màu cho tab sẽ thay đổi. 


Phiên bản sử dụng: 1.0.
Tải về tại: addons.mozilla.org/firefox/3810.

Đó là sở thích cá nhân. Colorful Tabs gán màu sắc tab ngẫu nhiên. Cho đến chừng nào tab còn mở thì màu sắc cho nó luôn được giữ nguyên, không quan tâm tới chỗ nào bạn lướt đến. Với ChromaTabs, màu sắc là luân phiên (một số sẽ không hấp dẫn lắm). 




  

Những tiện ích mở rộng cần phải có trên FireFox [P1]

Khái niệm
Trong bài viết này, tôi chỉ giới thiệu một số loại virus "quen thuộc" với người dùng gia đình.
Một số loại hầu như đã "tuyệt chủng" vì không theo kịp sự phát triển của máy tính, của Internet do chỉ lây lan trong đối tượng bị nhiễm, khả năng gây nguy hại không cao, dễ bị phát hiện. Tuy nhiên, đây không phải là tin mừng vì chúng ta phải tiếp tục "đối đầu" với thế hệ kế tiếp của chúng: tinh quái hơn, hiểm độc hơn, lây nhiễm nhanh hơn, khả năng phá hoại khủng khiếp... Bạn có thể tham khảo thêm thông tin về lịch sử phát triển của virus trong bài viết "Virus máy tính: 20 năm nhìn lại", ID: A0603_95.

Virus. Là một đoạn mã, một chương trình nhỏ được viết ra nhằm thực hiện một việc nào đó trên máy tính bị nhiễm mà không được sự cho phép hoặc người dùng không biết. Chúng có khả năng tự nhân bản, lây lan sang các tập tin, chương trình khác trong máy tính và sang máy tính khác. Virus máy tính thường được chia thành một số loại như: File virus (Jerusalem, Cascade...) là loại virus lây vào những tập tin của một số phần mềm thường sử dụng trong hệ điều hành Windows như tập tin .com, .exe, .bat, .pif, .sys...; Boot virus (Disk Killer, Michelangelo, Stoned...) là loại virus lây nhiễm vào đoạn mã trong cung từ khởi động (boot sector) của đĩa cứng; Macro virus (W97M.Melissa, WM.NiceDay, W97M.Groov...) lây nhiễm vào tập tin trong MS. Office. Ngoài ra, còn một số loại virus khác như virus lưỡng tính (kết hợp giữa boot virus và file virus), master boot record virus...

Trojan horse. Là những chương trình được ngụy trang bằng vẻ ngoài vô hại nhưng ẩn chứa bên trong những đoạn mã nguy hiểm nhằm đánh cắp thông tin cá nhân, mở các cổng để hacker xâm nhập, biến máy tính bị nhiễm thành nguồn phát tán thư rác hoặc trở thành công cụ tấn công một website nào đó, chẳng hạn như W32.Mimic. Không như virus và worm, Trojan horse không có khả năng tự nhân bản để lây lan, vì vậy chúng thường kết hợp với virus, worm để xâm nhập vào máy tính người dùng.

Spyware. Là phần mềm theo dõi những hoạt động của bạn trên máy tính. Chúng thu thập tất cả những thông tin cá nhân, thói quen cá nhân, thói quen lướt web của người dùng và gửi về cho tác giả. Spyware là mối đe dọa lớn nhất đối với sự an toàn của một máy tính, một hệ thống máy tính.

Adware. Đơn giản là một dạng phần mềm quảng cáo lén lút cài đặt vào máy tính người dùng hoặc cài đặt thông qua một phần mềm miễn phí, được người dùng cho phép (nhưng không ý thức được mục đích của chúng). Tuy nhiên, chúng không dừng lại ở tính đơn giản là quảng cáo khi kết hợp với những loại virus khác nhằm tăng "hiệu quả” phá hoại.

Worm. Sâu máy tính là một loại phần mềm có sức lây lan nhanh, rộng và phổ biến nhất hiện nay. Không giống với virus thời "nguyên thủy", worm không cần đến các tập tin "mồi" để lây nhiễm. Chúng tự nhân bản và phát tán qua môi trường Internet, mạng ngang hàng, dịch vụ chia sẻ...

Nhận biết máy tính bị nhiễm virus, spyware ...
Sau khi xâm nhập vào hệ thống, một số máy virus lập tức thực hiện việc phá hoại. Số khác lại ẩn nấp, âm thầm lây lan sang những máy tính khác, chờ đợi giờ G để đồng loạt "tổng tấn công" khiến người dùng trở tay không kịp; điển hình như virus CIH, Melissa. Một số hiện tượng thường gặp khi máy tính nhiễm virus: Có những triệu chứng bất thường như đĩa cứng bị truy cập liên tục; hệ thống hoạt động ì ạch; một số trang web lạ, popup quảng cáo tự động nhảy ra khi bạn làm việc. Nếu sử dụng Windows NT/2000/XP, bạn có thể xem thông tin trong Windows Task Manager như CPU Usage luôn ở mức 100%, xuất hiện một số tập tin thực thi lạ trong tab Processes của Windows Task Manager.


Và thường có bao giờ bạn cảm thấy máy tính của mình lại trở nên chậm chạp đến nỗi bạn không đủ kiên nhẫn để một trình ứng dụng nào đó kết thúc thời gian khởi động của nó? Hay gần đây, bạn có thấy trên trình duyệt đột nhiên xuất hiện một thanh toolbar mới mà trước đây bạn chưa hề thấy nó xuất hiện? Bạn thấy những popup quảng cáo xuất hiện ngay cả khi bạn không lướt web?

Trên đây là một vài triệu chứng cho thấy máy tính của bạn đã bị "dính" spyware, hardware hoặc những phần mềm độc hại không mong muốn. Cũng giống virus, những chương trình loại này có thể xâm nhập vào máy tính thông qua con đường gắn kèm vào các file download, e-mail hoặc các website khi người dùng viếng thăm. Mặc dù nó không mang lại những tác hại giống như virus, thế nhưng các chương trình kiểu này có thể làm máy tính của bạn chậm chạp đáng kể, không chỉ về tốc độ chạy các trình ứng dụng mà còn cả tốc độ kết nối vào Internet, giảm thiểu năng suất làm việc, và đôi khi nguỗn dữ liệu "nhạy cảm" của bạn có thể tiết lộ ra ngoài.

Bạn có thể tránh được nguy cơ cài đặt những phần mềm không mong muốn bằng việc chọn lựa cẩn thẩn các trình phần mềm miễn phí trên mạng khi download về máy, hiểu được các thiết lập thông số an toàn của trình duyệt. Gõ bỏ adware và spyware đòi hỏi cần có khả năng hiểu biết về máy tính vì đôi khi chúng ẩn náu rất tinh vi. Tuy nhiên, "vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn", có một số tiện ích miễn phí có thể phát hiện và "tống khứ" những thứ rác rưởi trong máy tính.
nguồn: pcworld.com.vn



Hướng dẫn phương pháp phòng chống virus và spyware

Việc cài XP full vào USB-HDD còn lệ thuộc nhiều vào 2 con số đặc biệt VID và PID của riêng từng ổ cứng USB. (Phức tạp nếu không biết tìm ra)

Với phương pháp này, bạn có thể dùng ngay USB generic driver( chung cho mọi USB_HDD) nên dễ dàng hơn cho mọi newbie muốn có XP full để cứu hộ máy tính mình.

Phương pháp thứ 2 được gọi là Sisal và Emmanuel, khác là cài Win XP từ đĩa CD  XP đã biến đổi vào thẳng USB_HDD : tuy vậy cách này hay gặp màn hình xanh dương chết chóc ( BSOD ) khi Boot  máy ; cũng như bị khởi động máy lại nhiều lần nhất khi cài xong XP vào USB-HDD . .

Nhưng nếu thành công, bạn không còn lệ thuộc vào bất cứ 2 con số VID và PID của từng USB-HDD .để cứu hộ riêng máy tính của mình.

Ước muốn xa vời hơn của mọi người là autoboot USB-HDD được trên mọi máy tính vẫn còn trở ngại chưa vượt qua trong 1 sớm một chiều vì có quá nhiều chủng loại mainboard nên rất chúng khác về USB controller .

Tạm thời, bạn vẫn có thể cứu hộ cho nhiều máy tính khác nhau, bằng đĩa CD  XPE trong môi trường 32 bit cực đẹp hay đĩa Hiren 80 qua DoS  hay Mini98

I) Chuẩn bị một số dụng cụ như sau:

1) Tải về trên mạng file  XPUSBfull.zip từ 1 trong 2 trang web sau:
http://rapidshare.de/files/37092563/USBTOOLS.zip
http://www.megaupload.com/?d=RP40P4FG
2) Tải file  này về và bung file  này ra tìm lấy ra cabarc.exe trong thư mục bin.
http://download.microsoft.com/download/platformsdk/cab/2.0/w98nt42kmexp/en-us/cabsdk.exe

3) Bạn phải có sẵn Ghost 83 với 2 phiên bản 32 bit chạy trong win và ghost.exe 83 chạy trong DoS  ( qua đĩa Hiren 85).

4) Đĩa XP SP2 CD  cài đặt và UtraISO 851 để trích xuất và chỉnh lại file  ISO.

II) Chỉnh sữa lại một số file  từ đĩa cài đăt XPSP2 để có sẵn generic Driver  ngay lúc cài nhằm thay đổi lại đĩa CD  XPSP2 :

1) Sao lưu ngay ổ C đang có XP bằngGhost 85 ( Hiren ) với file  là XPSP2.GHO qua ổ E.

Dĩ nhiên, đĩa cứng maý tính bạn đã có sẳn nhiều phân vùng từ C qua D, E, F.

2) Gắn ổ cứngUSB-HDD vào XP và dùng PM 805 nhằm sửa soạn một primary partition 3GB, format theo FAT  32 . Phần còn lại USB-HDD cũng nên format 32 nhưng lại là logical drive.

3) Tạo ra file  ISO  từ đĩa XPCDSP2 cài đặt, trong ổ E bằngUltraISO 851 , đặt tên là XPSP2.ISO.

4) Trích xuất ra từ file  XPSP2.ISO , các file  sau ( dosnet.inf, txtsetup.sif , usb.in_, usbprot. in_, usbstor.in_) váo một thư mục tạm, tên là XPUSB

5) Dùng notepad , mở 2 file  đầu tiên là dosnet.inf, txtsetup.sif chỉnh lại như sau:

a) DOSNET.INF: tìm ra phần[ Files ]
thêm vào dòng d1,usbboot.inf nằm trên dòng d1,_default.pif
như hình bên

b)TXTSETUP.SIF:

* tìm ra phần [SourceDiskFiles],
thêm một dòng usbboot.inf = 1,,,,,,_x,3,,3
trên dòng bootvid.dll = 1,,,,,,3_,2,0,0,,1,2
*Trong phần [InputDevicesSupport.Load],
chuyển 5 files trong ấy để đưa qua phần [BootBusExtenders.Load], đó là các dòng sau :
usbehci = usbehci.sys
usbohci = usbohci.sys
usbuhci = usbuhci.sys
usbhub = usbhub.sys
usbstor = usbstor.sys
* Cũng di chuyển 5 dòng từ phần [InputDevicesSupport] đưa qua [BootBusExtenders],
các dòng sau:
usbehci = "Enhanced Host Controller",files.usbehci,usbehci
usbohci = "Open Host Controller",files.usbohci,usbohci
usbuhci = "Universal Host Controller",files.usbuhci,usbuhci
usbhub = "Generic USB Hub Driver",files.usbhub,usbhub
usbstor = "USB Storage Class Driver",files.usbstor,usbstor
* Tìm ra phần [HiveInfs.Fresh] thêm vào dòng sau nằm dười cùng:







AddReg = usbboot.inf,usbservices
Nếu bạn thấy chỉnh quá khó, vẫn dùng ngay 2 file  này chỉnh sẵn, có trong thư mục INF_SIF bung ra từ file  /USBTOOLS.zip tải về

6) Dùng cabarc.exe đã có trong thư mục bin để bung 3 files nén USB.IN_ ra dạng INF mới chỉnh lại được nội dung, theo mẫu sau:

"cabarc x USBSTOR.IN_" và bạn buộc phải thấy dòng extracted successfully mới được.

7) Trong file  USB.INF vừa bung ra , tìm ra 2 phần

[StandardHub.AddService]; [CommonClassParent.AddService]; chỉnh lại 2 dòng :
- StartType từ số 3 ra 0
- LoadOrderGroup từ Base, ra Boot  Bus  Extender.

8) ở file  USBPORT.INF, tìm ra 4 phần



[EHCI.AddService], [OHCI.AddService] , [UHCI.AddService] và [ROOTHUB.AddService]
chỉnh lại 2 dòng sau:
- StartType từ 3 qua 0
- LoadOrderGroup từ chữ Base, qua Boot  Bus  Extender

9) ở file  USBSTOR.INF, tìm ra 2 phần [QV2KUX.AddService] và [USBSTOR.AddService]

a) ở [QV2KUX.AddService]

- StartType từ 3 qua 0
- Load OrderGroup từ chữ PNP filter  qua Boot  Bus  Extender

b) ở [USBSTOR.AddService]

- StartType từ 3 qua 0
- Thêm vào dòng LoadOrderGroup từ chữ PNP filter  qua Boot  Bus  Extender
Có thể dùng ngay 3 file  INF làm sẵn ở thư mục INFUSB của file  /USBTOOLS.zip tải về .

11) Sau khi làm xong, chuyển đổi trở lại 3 file  USB.INF, USBPORT.INF và USBSTOR.INF trở về lại dạng nén IN_ nguyên thủy trong CD  XP theo mẫu chung sau:
"cabarc n USB.IN_ usb.inf"

12) Dùng UltraISO 851, mở file  XPSP2.ISO  cũ ra, xoá đi 5 file  cũ có trong ấy là dosnet.inf, txtsetup.sif và 3 file  USB.IN_ là USB.IN-, USBPORT. IN_ và USBSTOR.IN_

13 ) Thải vào trong ISO  ấy 5 file  mới chỉnh sửa lại; cùng tên cùng với 1 file  USBBOOT.INF( có trong file  /USBTOOLS.zip tải về ) và save lại lần cuối thành XPUSB.ISO.
Ghi file  hình ảnh ISO  bằng các chương trình ghi đĩa này ra đĩa một CD  XP autoboot( đã được chỉnh xong cho USB ) .

III) Với cách của Sisal nguyên thuỷ, là cài thằng từ đĩa CD  chỉnh lại này vào USB-HDD, bạn phải bất hoạt( disable ):

hay gở hẵn các dây nối IDE ổ cứng ra, chỉnh lại trong BIOS( Cmos  ) cho chạy 1st Boot  là CDROM và 2nd là USB-HDD : Cách làm này sẽ hay bị lỗi rất nhiều lần gặp toàn BSOD( màn hình xanh dương chết chóc ), hoặc cứ reboot máy lại hoài không vào được XP khi cài xong .

Tôi chế biến lại theo 1 cách hoàn toàn khác hẵn dễ dàng hơn cho mọi người làm như sau:

1) Với Hiren Boot  CD  85 , dùng PM 805 chuẩn bị ổ C trống, mới tinh format bằng FAT  32 chọn trong BIOS first Boot  là CD-ROM  cài XP đã chỉnh sữa lại ( XPUSB.ISO) vào ổ cứng C máy tính( 2nd Boot  là HDD-0 ).

2) Khi cài xong XP chỉnh sữa vào ngay C, lần đầu chưa cài Driver  nào cả, vào phần Startup and recovery trong System properties\ Advanced, xoá ngay nút kiểm Always restart in system failure . Như thế bạn sẽ không bị reboot bậy khi chạy USB-HDD nữa.

Cũng nên disable ngay pagefile.sys ( ở Advanced \Performance options ) và cả phần Hibernate ở scrensaver .

Nếu nó đã lỡ cài Modem  hay Graphic card tự động, cũng nên uninstall cả 2 cái này và reboot máy lại .

3) Dùng Hiren bootCD85, ghost save lại ngay phân vùng C này với tên XPUSB.GHO . Phực hồi lại từ ổ E file  nguyên thủy XPSP2. GHO lại C như lúc đầu

4) Trong Winsdows XP, gắn ổ cứng USB-HDD vào cổng USB.
Ghost phục hồi lại file  XPUSB.GHO từ E qua ổ USB-HDD. Reboot máy lại. .

5) Kinh nghiệm cho biết , cách làm này hay bị BSOD nhiều nhất nên trong XP cần phòng ngừa trước bằng cách bung file  USBTOOLS.zip tải về để có các file  sau:

6) Chép ntdetect.com vào thư mục gốc của USB-HDD và chép các file  USBDRIVERSP1 vào thư mục drivers\ System32 của XP trong USB-HDD.

7) Regedit và load hive ở H_KEY_LOCAL_MACHINE tìm file  system trong Config của USB-HDD đặt tên tạm XPUSB mở nhánh này ra; xoá toàn bộ nhánh MountedDevices tìm ra nhánh tạm XPUSB và unlaod hive thoát ra khỏi XP registry.

8) Rreboot máylại .vào BIOS chỉnh lại first Boot  device là USB-HDD và 2nd device Boot  là HDD-0 , gắn ổ USB-HDD cho nó Boot  đầu tiên.

9) Bạn sẽ phải chờ đèn đỏ ổ cứng USB nhấp nháy khoảng 1.5 -2 phút rồi xuất hiện thanh diễn tiến và cuối cùng là XP logo và Desktop  .

10) Bạn đã thành công nhưng lần naỳ khác hẵn: hoàn toàn không cần biết đến Driver  chuyên biệt của từng ổ cứng USB_HDD nữa.

Bạn cừ cài thêm mọi thứ sau đó tuỳ thích, bạn sẽ có công cụ cứu hộ hay giải trí tuyệt vời trên 32 bit của XP trong USB-HDD.


Nguồn:  vietsupport

Cài Win XP từ CD vào USB (USB_HDD) với USB Generic driver

Mình trình bày cách cài đặt windown từ dos dành cho người mới bắt đầu tìm hiểu về đĩa Hiren's Boot.
-Sau khi các bạn đặt chế độ khởi động trước từ CD ROM trong BIOS các bạn cho đĩa Hiren’s Boot vào ổ CD ROM. Màn hình hiện ra như sau:
Bạn chọn mục 2: khởi động BootCD.

Chọn mục 9: (mục đích của việc chọn này là ta đang vào dấu nhắc của DOS).

Chọn mục 7.

Chọn mục 8.

Trên màn hình xuất hiện dấu nhắc DOS (R:\>).
+ Đánh VC để vào phần quản lý file. Từ đây ta có thể xóa bỏ, copy ...các thư mục có trong ổ cứng. Và điều đặc biệt quan trọng là ta xóa được hệ điều hành cũ đi cài hệ điều hành mới.
+ Đánh chữ m để vào list các ứng dụng của đĩa Hiren’s Boot ( mục này rất nhiều mình sẽ viết sau).
- Ở đây ta đánh chữ vc:

Chương trình báo là ta có muốn đọc phân vùng định dạng NTFS không.
- Nói thêm một chút về định dạng của partition: Một partition thì có thể định dạng được 1 trong các định dạng cơ bản sau:
+ Định dạng NTFS (cái này có tính bảo mật cao hơn FAT32 và hay dùng trong các máy server)
+ Định dạng FAT32 (những người mới sử dụng nên chọn định dạng này)
+ Định dạng FAT ( cái này ít sử dụng)
- Nếu máy ta có để ổ C định dạng kiểu NTFS mà không biết cách đọc partiton định dạng kiều này thì khi vào trong DOS partition này nó ẩn và tên ổ C sẽ được thay thế bằng tên những ổ cứng còn lại. Vì vậy ta phải chú ý khi format ổ cứng để tiến hành cài win tránh trường hợp format nhầm.

Đây là chương trìn quản lý file : Volkov Commander còn rất nhiều chương trình khác nhưng mình quen dùng cái này.

Ta nhấn tổ hợp phím ( alt+f1) để mở các của sổ mới để chọn phân vùng cài win tiến hành xóa.
- Ở đây ta chọn ổ C

Toàn bộ thư mục có trong ổ C của ta hiện nên. Bây giờ ta tiến hành xóa các thư mục này đi để cài mới windows hoàn toàn.
- Để di chuyển con chuột giữa 2 của sổ bạn dùng phím Tab. Và giữa các thư mcụ trong một của sổ ta dùng các phím mũi tên nên, xuống, phải, trái.

- Để xóa thư mục nào ta chuyển vệt sáng tới thư mục đó và ấn phím F8. Để xóa nhiều thư mục cùng một lúc ta ấn phím Insert để đánh dấu các thư mục cần xóa rồi ấn F8.

Một cửa sổ mới hiện nên ta chọn ALL-> Enter
Vậy là thư mục đó đã được xóa, các thư mục còn lại ta làm tương tự. 
Chú ý là khi ổ cứng của các bạn có lẫn các chương trình khác thì khi xóa Win ta chỉ xóa các mục sau:
+ Thư mục windows.
+ Thư mục program files.
+ Thư mục Documents and settings.
- Bây giờ cài Win thì có 2 cách:
+ Cài đặt không phải trong DOS. Ta cho đĩa win vào khởi động lại máy tính và trong khi khởi động như vậy thì máy có bảo là ấn một phím bất kì để khởi động từ đĩa win và ta cài đặt bình thường.
+ Cài đặt từ dos.
• Để nguyên màn hình Volkov commander, cho đĩa Hiren’s Boot ra-> cho đĩa windowns vào.
• Ấn tổ hợp phím (Alt+F1) để chọn ổ CDROM ( thường thì tên các ổ đĩa cứng xong là đến tên ổ CD ROM). Ta được:


Đây là toàn bộ file của bộ cài windowns XPSP2. Trước khi cài ta xem Cdkey bằng cách di vệt sáng đến Product_.txt-> Enter. Ta ghi lại số ***, muốn tắt bảng đó đi di chuột vào thanh menu chọn file-> exit.

Vào thư mục I386 . Sau đó gõ Winnt.exe --> Enter

Bây giờ nó ra đến màn hình cài Win bình thường.

Nguồn: free4vn.org


[TUT]Hướng dẫn cách cài đặt windowns từ DOS với đĩa Hiren's Boot