Việc cài XP full vào USB-HDD còn lệ thuộc nhiều vào 2 con số đặc biệt VID và PID
của riêng từng ổ cứng USB. (Phức tạp nếu không biết tìm ra)
Với phương pháp này, bạn có thể dùng ngay USB generic driver( chung cho mọi USB_HDD) nên dễ dàng hơn cho mọi newbie muốn có XP full để cứu hộ máy tính mình.
Phương pháp thứ 2 được gọi là Sisal và Emmanuel, khác là cài Win XP từ đĩa CD XP đã biến đổi vào thẳng USB_HDD : tuy vậy cách này hay gặp màn hình xanh dương chết chóc ( BSOD ) khi Boot máy ; cũng như bị khởi động máy lại nhiều lần nhất khi cài xong XP vào USB-HDD . .
Nhưng nếu thành công, bạn không còn lệ thuộc vào bất cứ 2 con số VID và PID của từng USB-HDD .để cứu hộ riêng máy tính của mình.
Ước muốn xa vời hơn của mọi người là autoboot USB-HDD được trên mọi máy tính vẫn còn trở ngại chưa vượt qua trong 1 sớm một chiều vì có quá nhiều chủng loại mainboard nên rất chúng khác về USB controller .
Tạm thời, bạn vẫn có thể cứu hộ cho nhiều máy tính khác nhau, bằng đĩa CD XPE trong môi trường 32 bit cực đẹp hay đĩa Hiren 80 qua DoS hay Mini98
I) Chuẩn bị một số dụng cụ như sau:
1) Tải về trên mạng file XPUSBfull.zip từ 1 trong 2 trang web sau:
Với phương pháp này, bạn có thể dùng ngay USB generic driver( chung cho mọi USB_HDD) nên dễ dàng hơn cho mọi newbie muốn có XP full để cứu hộ máy tính mình.
Phương pháp thứ 2 được gọi là Sisal và Emmanuel, khác là cài Win XP từ đĩa CD XP đã biến đổi vào thẳng USB_HDD : tuy vậy cách này hay gặp màn hình xanh dương chết chóc ( BSOD ) khi Boot máy ; cũng như bị khởi động máy lại nhiều lần nhất khi cài xong XP vào USB-HDD . .
Nhưng nếu thành công, bạn không còn lệ thuộc vào bất cứ 2 con số VID và PID của từng USB-HDD .để cứu hộ riêng máy tính của mình.
Ước muốn xa vời hơn của mọi người là autoboot USB-HDD được trên mọi máy tính vẫn còn trở ngại chưa vượt qua trong 1 sớm một chiều vì có quá nhiều chủng loại mainboard nên rất chúng khác về USB controller .
Tạm thời, bạn vẫn có thể cứu hộ cho nhiều máy tính khác nhau, bằng đĩa CD XPE trong môi trường 32 bit cực đẹp hay đĩa Hiren 80 qua DoS hay Mini98
I) Chuẩn bị một số dụng cụ như sau:
1) Tải về trên mạng file XPUSBfull.zip từ 1 trong 2 trang web sau:
http://rapidshare.de/files/37092563/USBTOOLS.zip
http://www.megaupload.com/?d=RP40P4FG
http://download.microsoft.com/download/platformsdk/cab/2.0/w98nt42kmexp/en-us/cabsdk.exe
3) Bạn phải có sẵn Ghost 83 với 2
phiên bản 32 bit chạy trong win và ghost.exe 83 chạy trong DoS ( qua đĩa Hiren 85).
4) Đĩa XP SP2 CD cài đặt và UtraISO 851 để trích xuất và chỉnh lại file ISO.
II) Chỉnh sữa lại một số file từ đĩa cài đăt XPSP2 để có sẵn generic Driver ngay lúc cài nhằm thay đổi lại đĩa CD XPSP2 :
1) Sao lưu ngay ổ C đang có XP bằngGhost 85 ( Hiren ) với file là XPSP2.GHO qua ổ E.
Dĩ nhiên, đĩa cứng maý tính bạn đã có sẳn nhiều phân vùng từ C qua D, E, F.
2) Gắn ổ cứngUSB-HDD vào XP và dùng PM 805 nhằm sửa soạn một primary partition 3GB, format theo FAT 32 . Phần còn lại USB-HDD cũng nên format 32 nhưng lại là logical drive.
3) Tạo ra file ISO từ đĩa XPCDSP2 cài đặt, trong ổ E bằngUltraISO 851 , đặt tên là XPSP2.ISO.
4) Trích xuất ra từ file XPSP2.ISO , các file sau ( dosnet.inf, txtsetup.sif , usb.in_, usbprot. in_, usbstor.in_) váo một thư mục tạm, tên là XPUSB
5) Dùng notepad , mở 2 file đầu tiên là dosnet.inf, txtsetup.sif chỉnh lại như sau:
a) DOSNET.INF: tìm ra phần[ Files ]
thêm vào dòng d1,usbboot.inf nằm trên dòng d1,_default.pif
như hình bên
b)TXTSETUP.SIF:
* tìm ra phần [SourceDiskFiles],
thêm một dòng usbboot.inf = 1,,,,,,_x,3,,3
trên dòng bootvid.dll = 1,,,,,,3_,2,0,0,,1,2
*Trong phần [InputDevicesSupport.Load],
chuyển 5 files trong ấy để đưa qua phần [BootBusExtenders.Load], đó là các dòng sau :
usbehci = usbehci.sys
usbohci = usbohci.sys
usbuhci = usbuhci.sys
usbhub = usbhub.sys
usbstor = usbstor.sys
AddReg = usbboot.inf,usbservices
Nếu bạn thấy chỉnh quá khó, vẫn dùng ngay 2 file này chỉnh sẵn, có trong thư mục INF_SIF bung ra từ file /USBTOOLS.zip tải về
6) Dùng cabarc.exe đã có trong thư mục bin để bung 3 files nén USB.IN_ ra dạng INF mới chỉnh lại được nội dung, theo mẫu sau:
"cabarc x USBSTOR.IN_" và bạn buộc phải thấy dòng extracted successfully mới được.
7) Trong file USB.INF vừa bung ra , tìm ra 2 phần
[StandardHub.AddService]; [CommonClassParent.AddService]; chỉnh lại 2 dòng :
- StartType từ số 3 ra 0
- LoadOrderGroup từ Base, ra Boot Bus Extender.
8) ở file USBPORT.INF, tìm ra 4 phần

[EHCI.AddService], [OHCI.AddService] , [UHCI.AddService] và [ROOTHUB.AddService]
chỉnh lại 2 dòng sau:
- StartType từ 3 qua 0
- LoadOrderGroup từ chữ Base, qua Boot Bus Extender
9) ở file USBSTOR.INF, tìm ra 2 phần [QV2KUX.AddService] và [USBSTOR.AddService]
a) ở [QV2KUX.AddService]
- StartType từ 3 qua 0
- Load OrderGroup từ chữ PNP filter qua Boot Bus Extender
b) ở [USBSTOR.AddService]
- StartType từ 3 qua 0
- Thêm vào dòng LoadOrderGroup từ chữ PNP filter qua Boot Bus Extender
Có thể dùng ngay 3 file INF làm sẵn ở thư mục INFUSB của file /USBTOOLS.zip tải về .
11) Sau khi làm xong, chuyển đổi trở lại 3 file USB.INF, USBPORT.INF và USBSTOR.INF trở về lại dạng nén IN_ nguyên thủy trong CD XP theo mẫu chung sau:
"cabarc n USB.IN_ usb.inf"
12) Dùng UltraISO 851, mở file XPSP2.ISO cũ ra, xoá đi 5 file cũ có trong ấy là dosnet.inf, txtsetup.sif và 3 file USB.IN_ là USB.IN-, USBPORT. IN_ và USBSTOR.IN_
13 ) Thải vào trong ISO ấy 5 file mới chỉnh sửa lại; cùng tên cùng với 1 file USBBOOT.INF( có trong file /USBTOOLS.zip tải về ) và save lại lần cuối thành XPUSB.ISO.
Ghi file hình ảnh ISO bằng các chương trình ghi đĩa này ra đĩa một CD XP autoboot( đã được chỉnh xong cho USB ) .
III) Với cách của Sisal nguyên thuỷ, là cài thằng từ đĩa CD chỉnh lại này vào USB-HDD, bạn phải bất hoạt( disable ):
hay gở hẵn các dây nối IDE ổ cứng ra, chỉnh lại trong BIOS( Cmos ) cho chạy 1st Boot là CDROM và 2nd là USB-HDD : Cách làm này sẽ hay bị lỗi rất nhiều lần gặp toàn BSOD( màn hình xanh dương chết chóc ), hoặc cứ reboot máy lại hoài không vào được XP khi cài xong .
Tôi chế biến lại theo 1 cách hoàn toàn khác hẵn dễ dàng hơn cho mọi người làm như sau:
1) Với Hiren Boot CD 85 , dùng PM 805 chuẩn bị ổ C trống, mới tinh format bằng FAT 32 chọn trong BIOS first Boot là CD-ROM cài XP đã chỉnh sữa lại ( XPUSB.ISO) vào ổ cứng C máy tính( 2nd Boot là HDD-0 ).
2) Khi cài xong XP chỉnh sữa vào ngay C, lần đầu chưa cài Driver nào cả, vào phần Startup and recovery trong System properties\ Advanced, xoá ngay nút kiểm Always restart in system failure . Như thế bạn sẽ không bị reboot bậy khi chạy USB-HDD nữa.
Cũng nên disable ngay pagefile.sys ( ở Advanced \Performance options ) và cả phần Hibernate ở scrensaver .
Nếu nó đã lỡ cài Modem hay Graphic card tự động, cũng nên uninstall cả 2 cái này và reboot máy lại .
3) Dùng Hiren bootCD85, ghost save lại ngay phân vùng C này với tên XPUSB.GHO . Phực hồi lại từ ổ E file nguyên thủy XPSP2. GHO lại C như lúc đầu
4) Trong Winsdows XP, gắn ổ cứng USB-HDD vào cổng USB. Ghost phục hồi lại file XPUSB.GHO từ E qua ổ USB-HDD. Reboot máy lại. .
5) Kinh nghiệm cho biết , cách làm này hay bị BSOD nhiều nhất nên trong XP cần phòng ngừa trước bằng cách bung file USBTOOLS.zip tải về để có các file sau:
6) Chép ntdetect.com vào thư mục gốc của USB-HDD và chép các file USBDRIVERSP1 vào thư mục drivers\ System32 của XP trong USB-HDD.
7) Regedit và load hive ở H_KEY_LOCAL_MACHINE tìm file system trong Config của USB-HDD đặt tên tạm XPUSB mở nhánh này ra; xoá toàn bộ nhánh MountedDevices tìm ra nhánh tạm XPUSB và unlaod hive thoát ra khỏi XP registry.
8) Rreboot máylại .vào BIOS chỉnh lại first Boot device là USB-HDD và 2nd device Boot là HDD-0 , gắn ổ USB-HDD cho nó Boot đầu tiên.
9) Bạn sẽ phải chờ đèn đỏ ổ cứng USB nhấp nháy khoảng 1.5 -2 phút rồi xuất hiện thanh diễn tiến và cuối cùng là XP logo và Desktop .
10) Bạn đã thành công nhưng lần naỳ khác hẵn: hoàn toàn không cần biết đến Driver chuyên biệt của từng ổ cứng USB_HDD nữa.
Bạn cừ cài thêm mọi thứ sau đó tuỳ thích, bạn sẽ có công cụ cứu hộ hay giải trí tuyệt vời trên 32 bit của XP trong USB-HDD.
4) Đĩa XP SP2 CD cài đặt và UtraISO 851 để trích xuất và chỉnh lại file ISO.
II) Chỉnh sữa lại một số file từ đĩa cài đăt XPSP2 để có sẵn generic Driver ngay lúc cài nhằm thay đổi lại đĩa CD XPSP2 :
1) Sao lưu ngay ổ C đang có XP bằngGhost 85 ( Hiren ) với file là XPSP2.GHO qua ổ E.
Dĩ nhiên, đĩa cứng maý tính bạn đã có sẳn nhiều phân vùng từ C qua D, E, F.
2) Gắn ổ cứngUSB-HDD vào XP và dùng PM 805 nhằm sửa soạn một primary partition 3GB, format theo FAT 32 . Phần còn lại USB-HDD cũng nên format 32 nhưng lại là logical drive.
3) Tạo ra file ISO từ đĩa XPCDSP2 cài đặt, trong ổ E bằngUltraISO 851 , đặt tên là XPSP2.ISO.
4) Trích xuất ra từ file XPSP2.ISO , các file sau ( dosnet.inf, txtsetup.sif , usb.in_, usbprot. in_, usbstor.in_) váo một thư mục tạm, tên là XPUSB
5) Dùng notepad , mở 2 file đầu tiên là dosnet.inf, txtsetup.sif chỉnh lại như sau:
a) DOSNET.INF: tìm ra phần[ Files ]
thêm vào dòng d1,usbboot.inf nằm trên dòng d1,_default.pif
như hình bên
b)TXTSETUP.SIF:
* tìm ra phần [SourceDiskFiles],
thêm một dòng usbboot.inf = 1,,,,,,_x,3,,3
trên dòng bootvid.dll = 1,,,,,,3_,2,0,0,,1,2
*Trong phần [InputDevicesSupport.Load],
chuyển 5 files trong ấy để đưa qua phần [BootBusExtenders.Load], đó là các dòng sau :
usbehci = usbehci.sys
usbohci = usbohci.sys
usbuhci = usbuhci.sys
usbhub = usbhub.sys
usbstor = usbstor.sys
* Cũng di chuyển 5 dòng từ phần [InputDevicesSupport] đưa qua
[BootBusExtenders],
các dòng sau:
usbehci = "Enhanced Host Controller",files.usbehci,usbehci
usbohci = "Open Host Controller",files.usbohci,usbohci
usbuhci = "Universal Host Controller",files.usbuhci,usbuhci
usbhub = "Generic USB Hub Driver",files.usbhub,usbhub
usbstor = "USB Storage Class Driver",files.usbstor,usbstor
các dòng sau:
usbehci = "Enhanced Host Controller",files.usbehci,usbehci
usbohci = "Open Host Controller",files.usbohci,usbohci
usbuhci = "Universal Host Controller",files.usbuhci,usbuhci
usbhub = "Generic USB Hub Driver",files.usbhub,usbhub
usbstor = "USB Storage Class Driver",files.usbstor,usbstor
* Tìm ra phần [HiveInfs.Fresh] thêm vào dòng sau nằm dười cùng:
Nếu bạn thấy chỉnh quá khó, vẫn dùng ngay 2 file này chỉnh sẵn, có trong thư mục INF_SIF bung ra từ file /USBTOOLS.zip tải về
6) Dùng cabarc.exe đã có trong thư mục bin để bung 3 files nén USB.IN_ ra dạng INF mới chỉnh lại được nội dung, theo mẫu sau:
"cabarc x USBSTOR.IN_" và bạn buộc phải thấy dòng extracted successfully mới được.
7) Trong file USB.INF vừa bung ra , tìm ra 2 phần
[StandardHub.AddService]; [CommonClassParent.AddService]; chỉnh lại 2 dòng :
- StartType từ số 3 ra 0
- LoadOrderGroup từ Base, ra Boot Bus Extender.
8) ở file USBPORT.INF, tìm ra 4 phần

[EHCI.AddService], [OHCI.AddService] , [UHCI.AddService] và [ROOTHUB.AddService]
chỉnh lại 2 dòng sau:
- StartType từ 3 qua 0
- LoadOrderGroup từ chữ Base, qua Boot Bus Extender
9) ở file USBSTOR.INF, tìm ra 2 phần [QV2KUX.AddService] và [USBSTOR.AddService]
a) ở [QV2KUX.AddService]
- StartType từ 3 qua 0
- Load OrderGroup từ chữ PNP filter qua Boot Bus Extender
b) ở [USBSTOR.AddService]
- StartType từ 3 qua 0
- Thêm vào dòng LoadOrderGroup từ chữ PNP filter qua Boot Bus Extender
Có thể dùng ngay 3 file INF làm sẵn ở thư mục INFUSB của file /USBTOOLS.zip tải về .
11) Sau khi làm xong, chuyển đổi trở lại 3 file USB.INF, USBPORT.INF và USBSTOR.INF trở về lại dạng nén IN_ nguyên thủy trong CD XP theo mẫu chung sau:
"cabarc n USB.IN_ usb.inf"
12) Dùng UltraISO 851, mở file XPSP2.ISO cũ ra, xoá đi 5 file cũ có trong ấy là dosnet.inf, txtsetup.sif và 3 file USB.IN_ là USB.IN-, USBPORT. IN_ và USBSTOR.IN_
13 ) Thải vào trong ISO ấy 5 file mới chỉnh sửa lại; cùng tên cùng với 1 file USBBOOT.INF( có trong file /USBTOOLS.zip tải về ) và save lại lần cuối thành XPUSB.ISO.
Ghi file hình ảnh ISO bằng các chương trình ghi đĩa này ra đĩa một CD XP autoboot( đã được chỉnh xong cho USB ) .
III) Với cách của Sisal nguyên thuỷ, là cài thằng từ đĩa CD chỉnh lại này vào USB-HDD, bạn phải bất hoạt( disable ):
hay gở hẵn các dây nối IDE ổ cứng ra, chỉnh lại trong BIOS( Cmos ) cho chạy 1st Boot là CDROM và 2nd là USB-HDD : Cách làm này sẽ hay bị lỗi rất nhiều lần gặp toàn BSOD( màn hình xanh dương chết chóc ), hoặc cứ reboot máy lại hoài không vào được XP khi cài xong .
Tôi chế biến lại theo 1 cách hoàn toàn khác hẵn dễ dàng hơn cho mọi người làm như sau:
1) Với Hiren Boot CD 85 , dùng PM 805 chuẩn bị ổ C trống, mới tinh format bằng FAT 32 chọn trong BIOS first Boot là CD-ROM cài XP đã chỉnh sữa lại ( XPUSB.ISO) vào ổ cứng C máy tính( 2nd Boot là HDD-0 ).
2) Khi cài xong XP chỉnh sữa vào ngay C, lần đầu chưa cài Driver nào cả, vào phần Startup and recovery trong System properties\ Advanced, xoá ngay nút kiểm Always restart in system failure . Như thế bạn sẽ không bị reboot bậy khi chạy USB-HDD nữa.
Cũng nên disable ngay pagefile.sys ( ở Advanced \Performance options ) và cả phần Hibernate ở scrensaver .
Nếu nó đã lỡ cài Modem hay Graphic card tự động, cũng nên uninstall cả 2 cái này và reboot máy lại .
3) Dùng Hiren bootCD85, ghost save lại ngay phân vùng C này với tên XPUSB.GHO . Phực hồi lại từ ổ E file nguyên thủy XPSP2. GHO lại C như lúc đầu
4) Trong Winsdows XP, gắn ổ cứng USB-HDD vào cổng USB. Ghost phục hồi lại file XPUSB.GHO từ E qua ổ USB-HDD. Reboot máy lại. .
5) Kinh nghiệm cho biết , cách làm này hay bị BSOD nhiều nhất nên trong XP cần phòng ngừa trước bằng cách bung file USBTOOLS.zip tải về để có các file sau:
6) Chép ntdetect.com vào thư mục gốc của USB-HDD và chép các file USBDRIVERSP1 vào thư mục drivers\ System32 của XP trong USB-HDD.
7) Regedit và load hive ở H_KEY_LOCAL_MACHINE tìm file system trong Config của USB-HDD đặt tên tạm XPUSB mở nhánh này ra; xoá toàn bộ nhánh MountedDevices tìm ra nhánh tạm XPUSB và unlaod hive thoát ra khỏi XP registry.
8) Rreboot máylại .vào BIOS chỉnh lại first Boot device là USB-HDD và 2nd device Boot là HDD-0 , gắn ổ USB-HDD cho nó Boot đầu tiên.
9) Bạn sẽ phải chờ đèn đỏ ổ cứng USB nhấp nháy khoảng 1.5 -2 phút rồi xuất hiện thanh diễn tiến và cuối cùng là XP logo và Desktop .
10) Bạn đã thành công nhưng lần naỳ khác hẵn: hoàn toàn không cần biết đến Driver chuyên biệt của từng ổ cứng USB_HDD nữa.
Bạn cừ cài thêm mọi thứ sau đó tuỳ thích, bạn sẽ có công cụ cứu hộ hay giải trí tuyệt vời trên 32 bit của XP trong USB-HDD.
Nguồn: vietsupport
Mình trình bày cách cài đặt windown từ dos dành cho người mới bắt đầu tìm hiểu
về đĩa Hiren's Boot.
-Sau khi các bạn đặt chế độ khởi động trước từ CD ROM trong BIOS các bạn cho đĩa Hiren’s Boot vào ổ CD ROM. Màn hình hiện ra như sau:
-Sau khi các bạn đặt chế độ khởi động trước từ CD ROM trong BIOS các bạn cho đĩa Hiren’s Boot vào ổ CD ROM. Màn hình hiện ra như sau:
Bạn chọn mục 2: khởi động BootCD.
Chọn mục 9: (mục đích của việc chọn này là ta đang vào dấu nhắc của DOS).
Chọn mục 7.
Chọn mục 8.
Trên màn hình xuất hiện dấu nhắc DOS (R:\>).
+ Đánh VC để vào phần quản lý file. Từ đây ta có thể xóa bỏ, copy ...các thư mục có trong ổ cứng. Và điều đặc biệt quan trọng là ta xóa được hệ điều hành cũ đi cài hệ điều hành mới.
+ Đánh chữ m để vào list các ứng dụng của đĩa Hiren’s Boot ( mục này rất nhiều mình sẽ viết sau).
- Ở đây ta đánh chữ vc:
+ Đánh VC để vào phần quản lý file. Từ đây ta có thể xóa bỏ, copy ...các thư mục có trong ổ cứng. Và điều đặc biệt quan trọng là ta xóa được hệ điều hành cũ đi cài hệ điều hành mới.
+ Đánh chữ m để vào list các ứng dụng của đĩa Hiren’s Boot ( mục này rất nhiều mình sẽ viết sau).
- Ở đây ta đánh chữ vc:
Chương trình báo là ta có muốn đọc phân vùng định dạng NTFS
không.
- Nói thêm một chút về định dạng của partition: Một partition thì có thể định dạng được 1 trong các định dạng cơ bản sau:
+ Định dạng NTFS (cái này có tính bảo mật cao hơn FAT32 và hay dùng trong các máy server)
+ Định dạng FAT32 (những người mới sử dụng nên chọn định dạng này)
+ Định dạng FAT ( cái này ít sử dụng)
- Nếu máy ta có để ổ C định dạng kiểu NTFS mà không biết cách đọc partiton định dạng kiều này thì khi vào trong DOS partition này nó ẩn và tên ổ C sẽ được thay thế bằng tên những ổ cứng còn lại. Vì vậy ta phải chú ý khi format ổ cứng để tiến hành cài win tránh trường hợp format nhầm.
- Nói thêm một chút về định dạng của partition: Một partition thì có thể định dạng được 1 trong các định dạng cơ bản sau:
+ Định dạng NTFS (cái này có tính bảo mật cao hơn FAT32 và hay dùng trong các máy server)
+ Định dạng FAT32 (những người mới sử dụng nên chọn định dạng này)
+ Định dạng FAT ( cái này ít sử dụng)
- Nếu máy ta có để ổ C định dạng kiểu NTFS mà không biết cách đọc partiton định dạng kiều này thì khi vào trong DOS partition này nó ẩn và tên ổ C sẽ được thay thế bằng tên những ổ cứng còn lại. Vì vậy ta phải chú ý khi format ổ cứng để tiến hành cài win tránh trường hợp format nhầm.
Đây là chương trìn quản lý file : Volkov Commander còn
rất nhiều chương trình khác nhưng mình quen dùng cái này.
Ta nhấn tổ hợp phím ( alt+f1) để mở các của sổ mới để
chọn phân vùng cài win tiến hành xóa.
- Ở đây ta chọn ổ C
- Ở đây ta chọn ổ C
Toàn bộ thư mục có trong ổ C của ta hiện nên. Bây giờ
ta tiến hành xóa các thư mục này đi để cài mới windows
hoàn toàn.
- Để di chuyển con chuột giữa 2 của sổ bạn dùng phím Tab. Và giữa các thư mcụ trong một của sổ ta dùng các phím mũi tên nên, xuống, phải, trái.
- Để di chuyển con chuột giữa 2 của sổ bạn dùng phím Tab. Và giữa các thư mcụ trong một của sổ ta dùng các phím mũi tên nên, xuống, phải, trái.
- Để xóa thư mục nào ta chuyển vệt sáng tới thư mục đó
và ấn phím F8. Để xóa nhiều thư mục cùng một lúc ta ấn
phím Insert để đánh dấu các thư mục cần xóa rồi ấn F8.
Một cửa sổ mới hiện nên ta chọn ALL-> Enter
Vậy là thư mục đó đã được xóa, các thư mục còn lại ta làm tương tự.
Chú ý là khi ổ cứng của các bạn có lẫn các chương trình khác thì khi xóa Win
ta chỉ xóa các mục sau:
+ Thư mục windows.
+ Thư
mục program files.
+ Thư mục Documents and settings.
- Bây giờ cài Win thì
có 2 cách:
+ Cài đặt không phải trong DOS. Ta cho
đĩa win vào khởi động lại máy tính và trong khi khởi động như vậy thì máy có bảo
là ấn một phím bất kì để khởi động từ đĩa win và ta cài đặt bình thường.
+
Cài đặt từ dos.
• Để nguyên màn hình Volkov commander, cho
đĩa Hiren’s Boot ra-> cho đĩa windowns vào.
• Ấn tổ hợp phím
(Alt+F1) để chọn ổ CDROM ( thường thì tên các ổ đĩa
cứng xong là đến tên ổ CD ROM). Ta được:
Đây là toàn bộ file của bộ cài windowns XPSP2. Trước khi cài ta xem Cdkey bằng
cách di vệt sáng đến Product_.txt-> Enter. Ta ghi lại số ***, muốn tắt bảng
đó đi di chuột vào thanh menu chọn file-> exit.
Vào thư mục I386 . Sau đó gõ Winnt.exe -->
Enter
Bây giờ nó ra đến màn hình cài Win bình thường.
Nguồn:
free4vn.org
Ổ đĩa cứng là thành
phần không thể thiếu của một hệ thống máy
tính. Nó là nơi lưu
trữ hệ điều hành, cài đặt các phần mềm, tiện ích cũng như lưu trữ dữ liệu để sử
dụng.
Những hiểu biết cơ bản về ổ đĩa cứng sẽ giúp bạn sử dụng tốt hơn.
Bài viết không nhằm giới thiệu chi tiết các linh kiện, bộ phận hay cách hoạt động bên trong ổ cứng mà mang đến cho bạn hiểu biết khái quát về các loại ổ cứng thông dụng hiện nay, cách nối kết vào hệ thống, cài đặt và sử dụng.
Chuẩn kết nối: IDE và SATA
Hiện nay ổ cứng gắn trong có 2 chuẩn kết nối thông dụng là IDE và SATA. Khi muốn mua mới hoặc bổ sung thêm một ổ cứng mới cho máy tính của mình, bạn cần phải biết được bo mạch chủ (motherboard) hỗ trợ cho chuẩn kết nối nào. Các dòng bo mạch chủ được sản xuất từ 2 năm trở lại đây sẽ có thể hỗ trợ cả hai chuẩn kết nối này, còn các bo mạch chủ trở về trước thì sẽ chỉ hỗ trợ IDE. Bạn cần xem thêm thông tin hướng dẫn kèm theo của bo mạch chủ mình đang sử dụng hoặc liên hệ nhà sản xuất để biết chính xác được chuẩn kết nối mà nó hỗ trợ.
IDE (EIDE)
Parallel ATA (PATA) hay còn được gọi là EIDE (Enhanced intergrated drive electronics) được biết đến như là 1 chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng hơn 10 năm nay. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa là 100 MB/giây. Các bo mạch chủ mới nhất hiện nay gần như đã bỏ hẳn chuẩn kết nối này, tuy nhiên, người dùng vẫn có thể mua loại card PCI EIDE Controller nếu muốn sử dụng tiếp ổ cứng EIDE.
SATA (Serial ATA)
Nhanh chóng trở thành chuẩn kết nối mới trong công nghệ ổ cứng nhờ vào những khả năng ưu việt hơn chuẩn IDE về tốc độ xử lý và truyền tải dữ liệu. SATA là kết quả của việc làm giảm tiếng ồn, tăng các luồng không khí trong hệ thống do những dây cáp SATA hẹp hơn 400% so với dây cáp IDE. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 150 - 300 MB/giây. Đây là lý do vì sao bạn không nên sử dụng ổ cứng IDE chung với ổ cứng SATA trên cùng một hệ thống. Ổ cứng IDE sẽ “kéo” tốc độ ổ cứng SATA bằng với mình, khiến ổ cứng SATA không thể hoạt động đúng với “sức lực” của mình. Ngày nay, SATA là chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng nhất và cũng như ở trên, ta có thể áp dụng card PCI SATA Controller nếu bo mạch chủ không hỗ trợ chuẩn kết nối này.
Bạn có thể yên tâm là các phiên bản Windows 2000/XP/2003/Vista hay phần mềm sẽ nhận dạng và tương thích tốt với cả
ổ cứng IDE lẫn SATA. Tuy vậy, cách thức cài đặt chúng vào hệ
thống thì khác nhau. Do đó, bạn cần biết cách phân biệt giữa ổ cứng IDE
và SATA để có thể tự cài đặt vào hệ thống của mình khi cần thiết. Cách thức đơn
giản nhất để phân biệt là nhìn vào phía sau của ổ cứng, phần kết nối của nó.
Ổ cứng PATA (IDE) với 40-pin kết nối song song, phần thiết lập jumper (10-pin với thiết lập master/slave/cable select) và phần nối kết nguồn điện 4-pin, độ rộng là 3,5-inch. Có thể gắn 2 thiết bị IDE trên cùng 1 dây cáp, có nghĩa là 1 cáp IDE sẽ có 3 đầu kết nối, 1 sẽ gắn kết vào bo mạch chủ và 2 đầu còn lại sẽ vào 2 thiết bị IDE.
Ổ cứng SATA có cùng kiểu dáng và kích cỡ, về độ dày có thể sẽ mỏng hơn ổ cứng IDE do các hãng sản xuất ổ cứng ngày càng cải tiến về độ dày. Điểm khác biệt dễ phân biệt là kiểu kết nối điện mà chúng yêu cầu để giao tiếp với bo mạch chủ, đầu kết nối của ổ cứng SATA sẽ nhỏ hơn, nguồn đóng chốt, jumper 8-pin và không có phần thiết lập Master/Slave/Cable Select, kết nối Serial ATA riêng biệt. Cáp SATA chỉ có thể gắn kết 1 ổ cứng SATA.
Ngoài 2 chuẩn kết nối IDE (PATA) và SATA, các nhà sản xuất ổ cứng còn có 2 chuẩn kết nối cho ổ cứng gắn ngoài là USB, FireWire. Ưu điểm của 2 loại kết nối này so với IDE và SATA là chúng có thể cắm “nóng” rồi sử dụng ngay chứ không cần phải khởi động lại hệ thống.
USB (Universal Serial Bus)
USB 2.0 là chuẩn kết nối ngoại vi cho hầu hết các máy tính sử dụng hệ điều hành Windows. Loại kết nối này có tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 480 MB/giây. Tốc độ duy trì liên tục khoảng từ 10 - 30 MB/giây, tuỳ thuộc vào những nhân tố khác nhau bao gồm loại thiết bị, dữ liệu được truyền tải và tốc độ hệ thống máy tính. Nếu cổng USB của bạn thuộc phiên bản cũ hơn 1.0 hay 1.1 thì bạn vẫn có thể sử dụng ổ cứng USB 2.0 nhưng tốc độ truyền tải sẽ chậm hơn.
FireWire
FireWire còn được gọi là IEEE 1394, là chuẩn kết nối xử lý cao cấp cho người dùng máy tính cá nhân và thiết bị điện tử. Giao diện kết nối này sử dụng cấu trúc ngang hàng và có 2 cấu hình:
FireWire 400 (IEEE 1394a) truyền tải môt khối lượng dữ liệu lớn giữa các máy tính và những thiết bị ngoại vi với tốc độ 400 MB/giây. Thường dùng cho các loại ổ cứng gắn ngoài, máy quay phim, chụp ảnh kỹ thuật số…
FireWire 800 (IEEE 1394b) cung cấp kết nối tốc độ cao (800 MB/giây) và băng thông rộng cho việc truyền tải nhiều video số và không nén, các tập tin audio số chất lượng cao. Nó cung ứng khả năng linh hoạt trong việc kết nối khoảng cách xa và các tuỳ chọn cấu hình mà USB không đáp ứng được.
Những hiểu biết cơ bản về ổ đĩa cứng sẽ giúp bạn sử dụng tốt hơn.
Bài viết không nhằm giới thiệu chi tiết các linh kiện, bộ phận hay cách hoạt động bên trong ổ cứng mà mang đến cho bạn hiểu biết khái quát về các loại ổ cứng thông dụng hiện nay, cách nối kết vào hệ thống, cài đặt và sử dụng.
Chuẩn kết nối: IDE và SATA
Hiện nay ổ cứng gắn trong có 2 chuẩn kết nối thông dụng là IDE và SATA. Khi muốn mua mới hoặc bổ sung thêm một ổ cứng mới cho máy tính của mình, bạn cần phải biết được bo mạch chủ (motherboard) hỗ trợ cho chuẩn kết nối nào. Các dòng bo mạch chủ được sản xuất từ 2 năm trở lại đây sẽ có thể hỗ trợ cả hai chuẩn kết nối này, còn các bo mạch chủ trở về trước thì sẽ chỉ hỗ trợ IDE. Bạn cần xem thêm thông tin hướng dẫn kèm theo của bo mạch chủ mình đang sử dụng hoặc liên hệ nhà sản xuất để biết chính xác được chuẩn kết nối mà nó hỗ trợ.
IDE (EIDE)
Parallel ATA (PATA) hay còn được gọi là EIDE (Enhanced intergrated drive electronics) được biết đến như là 1 chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng hơn 10 năm nay. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa là 100 MB/giây. Các bo mạch chủ mới nhất hiện nay gần như đã bỏ hẳn chuẩn kết nối này, tuy nhiên, người dùng vẫn có thể mua loại card PCI EIDE Controller nếu muốn sử dụng tiếp ổ cứng EIDE.
SATA (Serial ATA)
Nhanh chóng trở thành chuẩn kết nối mới trong công nghệ ổ cứng nhờ vào những khả năng ưu việt hơn chuẩn IDE về tốc độ xử lý và truyền tải dữ liệu. SATA là kết quả của việc làm giảm tiếng ồn, tăng các luồng không khí trong hệ thống do những dây cáp SATA hẹp hơn 400% so với dây cáp IDE. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 150 - 300 MB/giây. Đây là lý do vì sao bạn không nên sử dụng ổ cứng IDE chung với ổ cứng SATA trên cùng một hệ thống. Ổ cứng IDE sẽ “kéo” tốc độ ổ cứng SATA bằng với mình, khiến ổ cứng SATA không thể hoạt động đúng với “sức lực” của mình. Ngày nay, SATA là chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng nhất và cũng như ở trên, ta có thể áp dụng card PCI SATA Controller nếu bo mạch chủ không hỗ trợ chuẩn kết nối này.
Bạn có thể yên tâm là các phiên bản Windows 2000/XP/2003/
Ổ cứng PATA (IDE) với 40-pin kết nối song song, phần thiết lập jumper (10-pin với thiết lập master/slave/cable select) và phần nối kết nguồn điện 4-pin, độ rộng là 3,5-inch. Có thể gắn 2 thiết bị IDE trên cùng 1 dây cáp, có nghĩa là 1 cáp IDE sẽ có 3 đầu kết nối, 1 sẽ gắn kết vào bo mạch chủ và 2 đầu còn lại sẽ vào 2 thiết bị IDE.
Ổ cứng SATA có cùng kiểu dáng và kích cỡ, về độ dày có thể sẽ mỏng hơn ổ cứng IDE do các hãng sản xuất ổ cứng ngày càng cải tiến về độ dày. Điểm khác biệt dễ phân biệt là kiểu kết nối điện mà chúng yêu cầu để giao tiếp với bo mạch chủ, đầu kết nối của ổ cứng SATA sẽ nhỏ hơn, nguồn đóng chốt, jumper 8-pin và không có phần thiết lập Master/Slave/Cable Select, kết nối Serial ATA riêng biệt. Cáp SATA chỉ có thể gắn kết 1 ổ cứng SATA.
Ngoài 2 chuẩn kết nối IDE (PATA) và SATA, các nhà sản xuất ổ cứng còn có 2 chuẩn kết nối cho ổ cứng gắn ngoài là USB, FireWire. Ưu điểm của 2 loại kết nối này so với IDE và SATA là chúng có thể cắm “nóng” rồi sử dụng ngay chứ không cần phải khởi động lại hệ thống.
USB (Universal Serial Bus)
USB 2.0 là chuẩn kết nối ngoại vi cho hầu hết các máy tính sử dụng hệ điều hành Windows. Loại kết nối này có tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 480 MB/giây. Tốc độ duy trì liên tục khoảng từ 10 - 30 MB/giây, tuỳ thuộc vào những nhân tố khác nhau bao gồm loại thiết bị, dữ liệu được truyền tải và tốc độ hệ thống máy tính. Nếu cổng USB của bạn thuộc phiên bản cũ hơn 1.0 hay 1.1 thì bạn vẫn có thể sử dụng ổ cứng USB 2.0 nhưng tốc độ truyền tải sẽ chậm hơn.
FireWire
FireWire còn được gọi là IEEE 1394, là chuẩn kết nối xử lý cao cấp cho người dùng máy tính cá nhân và thiết bị điện tử. Giao diện kết nối này sử dụng cấu trúc ngang hàng và có 2 cấu hình:
FireWire 400 (IEEE 1394a) truyền tải môt khối lượng dữ liệu lớn giữa các máy tính và những thiết bị ngoại vi với tốc độ 400 MB/giây. Thường dùng cho các loại ổ cứng gắn ngoài, máy quay phim, chụp ảnh kỹ thuật số…
FireWire 800 (IEEE 1394b) cung cấp kết nối tốc độ cao (800 MB/giây) và băng thông rộng cho việc truyền tải nhiều video số và không nén, các tập tin audio số chất lượng cao. Nó cung ứng khả năng linh hoạt trong việc kết nối khoảng cách xa và các tuỳ chọn cấu hình mà USB không đáp ứng được.
Subscribe to:
Comments (Atom)






















